CÁC THẾ HỆ SẢN PHẨM PROBIOTIC

Đảm bảo khả năng sống của vi sinh vật (VSV) probiotic khi sản xuất, bảo quản, lưu hành sản phẩm và tỉ lệ sống sót cao khi đến ruột là vấn đề không đơn giản. Phương pháp quan trọng nhất là dùng bao bảo vệ chúng. Quá trình sản xuất, phát triển công nghệ bao bảo vệ (coated) phải trải qua thời gian dài mới hoàn thiện dần. Thật vậy:

Thế hệ đầu tiên (đa số các sản phẩm trên thị trường hiện nay thuộc thế hệ này) là dạng VSV probiotic tự nhiên, không bao (Non- coated). VSV không bao sống tốt trong thực phẩm lên men (như kim chi, sữa chua, phomat…) nhưng khó sống trong các dạng bào chế thuốc khi lưu hành. Thêm vào đó, nhược điểm lớn nhất khi sử dụng là chúng gần như không sống sót khi đi qua dạ dày và dịch mật. Để hạn chế nhược điểm này, một số nhà sản xuất sử dụng VSV ở dạng bào tử, nhiều nhất là chi Bacillus. Tuy nhiên, chi Bacillus không phải là VSV thường trú trong ruột, không nên dùng lâu dài như các VSV có lợi thường trú trong ruột.   

Thế hệ thứ 2 là dạng bao tan trong ruột (Enteric-coated) và Thế hệ thứ 3 là dạng bao vi nang (Micro-Encapsulated), VSV probiotic được đưa vào dưới dạng viên nén hoặc viên nang với lớp bao bên ngoài tan trong ruột (thế hệ 2) hoặc chúng trực tiếp được bao vi nang bằng nhiều vật liệu khác nhau (thế hệ 3), hoàn thiện ý tưởng của thế hệ thứ 2. Đây là ý tưởng bắt đầu của việc cần thiết bảo vệ VSV probiotic khi đi qua dạ dày và dịch mật. Tuy nhiên, hai thế hệ này vẫn còn một số hạn chế nhất định, nhất là khả năng phóng thích nhanh ở ruột để phát huy tác dụng.

Thế hệ thứ 4 là thế hệ mới nhất, sử dụng công nghệ DuolacTM tạo lớp bao kép (Dual-coated), vừa xuất hiện. Lớp bên trong là protein và bên ngoài là polysaccharide với ưu điểm vượt trội, đạt được những yêu cầu khắt khe khi sử dụng: VSV probiotic sống cao trong sản xuất và bảo quản, chống chịu được acid khi qua dạ dày cũng như muối mật, phóng thích nhanh tại ruột để phát huy tác dụng trong thời gian nhanh nhất (khắc phục nhược điểm hạn chế phóng thích chậm của thế hệ 2,3) .

Sự phát triển của công nghệ bào chế tạo lớp bao kép đã giúp chúng ta có được những sản phẩm VSV probiotic đạt yêu cầu chất lượng cao nhất, vượt qua được những thử nghiệm khắt khe với tỷ lệ sống cao: thử nghiệm tính bền (40oC và độ ẩm 40% trong 36 ngày), thử nghiệm chịu nhiệt (50oC trong 4 ngày), thử nghiệm trong dịch dạ dày (pH 2.1 trong 2h), dịch mật (0.25%)…còn các sản phẩm không bao khác, hầu như chết hết trong các thử nghiệm trên. Đây là bước ngoặt của ngành công nghệ bao probiotic, đã được công nhận và sử dụng trên nhiều quốc gia tiên tiến. Tại Việt nam chúng ta vừa mới có sản phẩm sử dụng công nghệ DuolacTM (Lacclean Gold cho người lớn, Bioprolac 7.1 cho người lớn và trẻ em và Kidlac cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ). Việc sản xuất, bảo quản và sử dụng probiotic tuân thủ đúng và đạt được tất cả các yêu cầu  theo khuyến cáo của FAO/WHO thì mới cho kết quả tốt, ngược lại sẽ không đem lại mong muốn khi sử dụng, không hiệu quả và lãng phí.
(DS Nguyễn Văn Vinh)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *