PROBIOTIC VÀ SỨC KHỎE ĐƯỜNG RUỘT

Lâu đời nhất là truyền thống sử dụng thực phẩm lên men ở châu Á từ hàng nghìn năm nay nhưng chỉ bắt đầu sử dụng có chủ đích cho sức khỏe vào năm 1930. Tại châu Âu, Metchnikof đã khám phá vai trò của việc sử dụng sữa lên men có chứa Lactobacillus làm tăng tuổi thọ của người dân Bulgaria. Với nhiều nghiên cứu độc lập từ nhiều quốc gia khác nhau, đã không còn những tranh luận khác biệt hoặc phủ nhận, đã cho thấy probiotic là một nhóm VSV  có lợi cho cơ thể, có nhiều khả năng to lớn và kỳ diệu như: giúp giải quyết các trường hợp rối loạn tiêu hóa do mất cân bằng hệ VSV đường ruột, giúp tăng sức đề kháng, giảm dị ứng thực phẩm, tăng dung nạp lactose, giảm cholesterol trong máu, ngăn ngừa yếu tố gây bệnh nội và ngoại sinh. Đồng thời, probiotic cũng có thể sử dụng như một liệu pháp phòng ngừa nhiều bệnh tật, kể cả bệnh ung thư ruột…

Năm 2002, probiotic đã chính thức được Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận vai trò quan trọng đối với sức khỏe và nêu rõ: “Probiotic là những VSV sống mà khi sử dụng với lượng phù hợp sẽ đem lại ích lợi cho sức khỏe của sinh vật chủ”. Các chủng VSV khi sử dụng làm probiotic phải có những đặc tính: Có nguồn gốc từ con người; có khả năng bám chặt vào niêm mạc ruột và ngăn không cho vi khuẩn gây bệnh bám vào; Chống chịu được tác động của dịch dạ dày và muối mật để đến ruột. Tại ruột, probiotic phải được phóng thích tốt và sản sinh nhanh chóng để phát huy tối đa tác dụng cân bằng hệ VSV; Có khả năng thật sự kháng được vi khuẩn gây bệnh; Được công nhận có tác động tích cực trong chữa trị và an toàn khi sử dụng (Generally Recognized As Safe – GRAS).

Trước hết, cần phải đảm bảo các VSV probiotic còn sống trong quá trình sản xuất. VSV probiotic rất mỏng manh, nhạy cảm với các điều kiện bất lợi như nhiệt độ, độ ẩm nên nếu không lưu ý chúng có thể chết ngay trong quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển và bảo quản. Hơn nữa khi được sử dụng qua đường uống, VSV probiotic sau khi chịu tác động môi trường acid ở dạ dày cũng như dịch mật ở ruột (với pH từ 2-4), phải sống sót khi đến ruột với tỉ lệ cao mới phát huy tác dụng trong thời gian nhanh nhất là những vấn đề hết sức quan trọng nhưng còn bị xem nhẹ. Các nhà sản xuất probiotic theo phương pháp truyền thống (lên men tự nhiên, các sản phẩm probiotic đông khô, trần…) thường không đáp ứng được yêu cầu về tỷ lệ sống sót của probiotic khi sử dụng. Điều này bắt buộc các nhà sản xuất phải nghĩ đến một giải pháp công nghệ mới để bảo vệ probiotic, tăng tỷ lệ sống sót.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *