Probiotic- Vi sinh vật trong sản phẩm Probiotic

Probiotic là thuật ngữ để chỉ một nhóm vi sinh vật có lợi cho cơ thể, giúp giải quyết các trường hợp rối loạn tiêu hóa do mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, giúp tăng sức đề kháng, giảm dị ứng thực phẩm, tăng dung nạp lactose, giảm cholesterol, ngăn ngừa yếu tố gây bệnh nội và ngoại sinh, đồng thời được sử dụng như liệu pháp phòng ngừa nhiều bệnh tật kể cả bệnh ung thư ruột… Probiotic ngày càng được sử dụng rộng rãi, dưới nhiều dạng khác nhau như thực phẩm chức năng, dược phẩm, thực phẩm sử dụng hàng ngày, sữa dùng cho trẻ em, nước ép trái cây.

Đã có nhiều định nghĩa cho thuật ngữ này của các tác giả khác nhau như: Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể vi sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (Parker, 1974). Van De Kerkove (1979), Barrows và Deam (1985), Lestradet (1995) cùng cho rằng probiotic được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh ở người và động vật để giảm đến mức tổi thiểu sự lan truyền của vi sinh vật gây bệnh đường ruột và sự di căn của chứng viêm dạ dày – ruột. Probiotic cũng được coi là có những ảnh hưởng có lợi trên hệ vi sinh vật của sinh vật chủ (Fuller, 1989). Năm 1992, Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được xem như là sự sử dụng riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật chủ. Gần đây năm 2002, tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc và Tổ Y tế Thế giới (FAO/WHO) nêu rõ: ”Probiotic là những vi sinh vật sống mà khi sử dụng với lượng phù hợp sẽ đem lại ích lợi cho sức khỏe của sinh vật chủ”. Hiện nay khái niệm probiotic đã được mở rộng ra cho các loại probiotic chết đông khô (Lacteol). Tuy vi sinh vật probiotic đã chết nhưng các sản phẩm chuyển hóa trong tế bào vẫn giữ được nguyên vẹn do vậy vẫn có tác động điều trị! Đây là một vấn đề mới cần xem xét.

Ngày càng có nhiều chủng vi sinh vật mới được phát hiện để ứng dụng làm probiotic, theo FAO/WHO khi chọn và phát triển vi sinh vật probiotic trong sản phẩm, để thực sự có hiệu quả cao trong chữa trị phải tuân thủ những yêu cầu, đặc tính khắt khe sau: 1/.Chủng vi sinh vật phải có nguồn gốc từ con người; có khả năng bám chặt vào niêm mạc ruột và ngăn không cho vi khuẩn gây bệnh bám. 2/.Chống chịu được tác động dịch dạ dày và acid mật để đến ruột. Tại ruột, probiotic phải phóng thích tốt và sản sinh nhanh chóng để phát huy tối đa tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật. 3/.Có khả năng thật sự kháng được vi khuẩn gây bệnh. 4/.Được công nhận có tác động tích cực trong chữa trị và an toàn khi sử dụng (Generally Recognized as Safe-GRAS). Những tiêu chuẩn an toàn về vi sinh vật probiotic gần đây được đề cập rất nhiều và nghiên cứu. Hiện nay một số sản phẩm trên thị trường có dùng các chủng vi sinh vật không đáp ứng các tiêu chí trên, thậm chí có thể có yếu tố gây hại cho người sử dụng.

Nhóm vi khuẩn lactic và các vi khuẩn hội sinh không mang yếu tố gây bệnh như: Lactobacillus, Bifidobacterium, Enterococcus, Streptococcus… có nguồn gốc từ người, được sử dụng nhiều trong sản phẩm probiotic. LactobacillusBifidobacterium là những vi khuẩn Gram dương, tạo acid lactic, là phần chính của hệ vi khuẩn đường ruột ở người và động vật khỏe mạnh. Những vi khuẩn thân thiện này đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sự kháng lại những vi sinh vật ngoại sinh nhất là vi sinh vật có hại.

Probiotic là thuật ngữ để chỉ một nhóm vi sinh vật có lợi cho cơ thể, giúp giải quyết các trường hợp rối loạn tiêu hóa do mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, giúp tăng sức đề kháng, giảm dị ứng thực phẩm, tăng dung nạp lactose, giảm cholesterol, ngăn ngừa yếu tố gây bệnh nội và ngoại sinh, đồng thời được sử dụng như liệu pháp phòng ngừa nhiều bệnh tật kể cả bệnh ung thư ruột… Probiotic ngày càng được sử dụng rộng rãi, dưới nhiều dạng khác nhau như thực phẩm chức năng, dược phẩm, thực phẩm sử dụng hàng ngày, sữa dùng cho trẻ em, nước ép trái cây.

Đã có nhiều định nghĩa cho thuật ngữ này của các tác giả khác nhau như: Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể vi sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (Parker, 1974). Van De Kerkove (1979), Barrows và Deam (1985), Lestradet (1995) cùng cho rằng probiotic được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh ở người và động vật để giảm đến mức tổi thiểu sự lan truyền của vi sinh vật gây bệnh đường ruột và sự di căn của chứng viêm dạ dày – ruột. Probiotic cũng được coi là có những ảnh hưởng có lợi trên hệ vi sinh vật của sinh vật chủ (Fuller, 1989). Năm 1992, Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được xem như là sự sử dụng riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật chủ. Gần đây năm 2002, tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc và Tổ Y tế Thế giới (FAO/WHO) nêu rõ: ”Probiotic là những vi sinh vật sống mà khi sử dụng với lượng phù hợp sẽ đem lại ích lợi cho sức khỏe của sinh vật chủ”. Hiện nay khái niệm probiotic đã được mở rộng ra cho các loại probiotic chết đông khô (Lacteol). Tuy vi sinh vật probiotic đã chết nhưng các sản phẩm chuyển hóa trong tế bào vẫn giữ được nguyên vẹn do vậy vẫn có tác động điều trị! Đây là một vấn đề mới cần xem xét.

Ngày càng có nhiều chủng vi sinh vật mới được phát hiện để ứng dụng làm probiotic, theo FAO/WHO khi chọn và phát triển vi sinh vật probiotic trong sản phẩm, để thực sự có hiệu quả cao trong chữa trị phải tuân thủ những yêu cầu, đặc tính khắt khe sau: 1/.Chủng vi sinh vật phải có nguồn gốc từ con người; có khả năng bám chặt vào niêm mạc ruột và ngăn không cho vi khuẩn gây bệnh bám. 2/.Chống chịu được tác động dịch dạ dày và acid mật để đến ruột. Tại ruột, probiotic phải phóng thích tốt và sản sinh nhanh chóng để phát huy tối đa tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật. 3/.Có khả năng thật sự kháng được vi khuẩn gây bệnh. 4/.Được công nhận có tác động tích cực trong chữa trị và an toàn khi sử dụng (Generally Recognized as Safe-GRAS). Những tiêu chuẩn an toàn về vi sinh vật probiotic gần đây được đề cập rất nhiều và nghiên cứu. Hiện nay một số sản phẩm trên thị trường có dùng các chủng vi sinh vật không đáp ứng các tiêu chí trên, thậm chí có thể có yếu tố gây hại cho người sử dụng.

Nhóm vi khuẩn lactic và các vi khuẩn hội sinh không mang yếu tố gây bệnh như: Lactobacillus, Bifidobacterium, Enterococcus, Streptococcus… có nguồn gốc từ người, được sử dụng nhiều trong sản phẩm probiotic. LactobacillusBifidobacterium là những vi khuẩn Gram dương, tạo acid lactic, là phần chính của hệ vi khuẩn đường ruột ở người và động vật khỏe mạnh. Những vi khuẩn thân thiện này đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sự kháng lại những vi sinh vật ngoại sinh nhất là vi sinh vật có hại.

Lactobacillus spp.:
là vi khuẩn Gram dương, không sinh bào tử, có dạng hình que hay hình cầu. Chúng ưa acid, có những nhu cầu về dinh dưỡng phức tạp và lên men được trong điều kiện hiếu khí hay kị khí. Lactobacillus spp. được tìm thấy trong màng nhầy ruột của người và động vật, chất thải và thực phẩm lên men hay hư hỏng, chúng có vai trò giúp tiêu hóa và hấp thụ protein trong ruột. 

Với những người ăn nhiều thịt, ruột non là nơi quan trọng nhất của hệ tiêu hóa để tiêu hóa. Thông thường, Lactobacillus spp. sống nhiều ở ruột non do vậy đóng vai trò quan trọng trong hấp thu. Ngòai ra, chúng cũng giúp phòng ngừa tiêu chảy, dị ứng bất thường, đây là những bệnh thường thấy trên trẻ em.

Trong số đó, Lactobacillus acidophilus hiện diện nhiều nhất trong ruột người khỏe mạnh, ngòai ra còn tìm thấy chúng trong âm đạo phụ nữ, có khả năng dung nạp trong môi trường acid như ở dạ dày tốt nhất. Điều này dẫn đến giúp cạnh tranh, ức chế các vi khuẩn có hại khác như Staphylococcus aureus, E. coli, nấm Candida albicans, giảm lượng cholesterol, giúp dung nạp sử dụng lactose và có khả năng chống ung thư. Do vậy, chúng được sử dụng nhiều nhất làm probiotic và hỗ trợ điều trị tiêu chảy cũng như táo bón.

Lactobacillus casei cũng hiện diện nhiều trong phân người do vậy được sử dụng làm probiotic để cân bằng hệ vi khuẩn ruột, hỗ trợ điều trị tiêu chảy cũng như táo bón. Gần đây L. casei cho thấy có khả năng kích thích miễn dịch, và giúp chống các dị ứng bất thường. L. plantarum, tiết ra nhiều kháng sinh tự nhiên (bacteriocin), tổng hợp được acid amin L-Lysin, thải lọai nitrate tạo ra bởi vi khuẩn thối rửa. Vi sinh vật này cho thấy khả năng chống oxy hóa, ức chế Staphylococcus aureus trong các thức ăn lên men, trên người tình nguyện khỏe mạnh, khi sử dụng giúp giảm rõ rệt số lượng vi khuẩn có hại trong ruột. L. delbrueckii ssp. bulgaricus giúp tăng cường việc sử dụng lactose trên những người không dung nạp.

Thử nghiệm in vitro với chủng L. rhamnosus cho thấy chúng tạo ra những chất kháng khuẩn có trọng lượng phân tử nhỏ, có thể là những chuỗi acid béo mạch ngắn, chúng có khả năng ức chế các vi khuẩn kỵ khí như: Clostridium, Bacteroides, Bifidobacterium, chống lại Enterobacteriaceae, Pseudomonas, Staphylocuccus, Streptococus nhưng không chống lại các Lactobacilli khác. Thử nghiệm in vivo cho thấy khả năng chống lại vi khuẩn gây bệnh đường ruột của L. rhamnosus hoặc L. acidophilus  trên chuột được gây nhiễm Salmonella typhimurium. Ngoài ra L. acidophilus còn cho thấy khả năng chống lại vi khuẩn Helicobacter pylori trong những thử nghiệm trên in vitro và cả những thử nghiệm trên người.

Lactobacillus spp.:
là vi khuẩn Gram dương, không sinh bào tử, có dạng hình que hay hình cầu. Chúng ưa acid, có những nhu cầu về dinh dưỡng phức tạp và lên men được trong điều kiện hiếu khí hay kị khí. Lactobacillus spp. được tìm thấy trong màng nhầy ruột của người và động vật, chất thải và thực phẩm lên men hay hư hỏng, chúng có vai trò giúp tiêu hóa và hấp thụ protein trong ruột. Với những người ăn nhiều thịt, ruột non là nơi quan trọng nhất của hệ tiêu hóa để tiêu hóa. 

Thông thường, Lactobacillus spp. sống nhiều ở ruột non do vậy đóng vai trò quan trọng trong hấp thu. Ngòai ra, chúng cũng giúp phòng ngừa tiêu chảy, dị ứng bất thường, đây là những bệnh thường thấy trên trẻ em.

Trong số đó, Lactobacillus acidophilus hiện diện nhiều nhất trong ruột người khỏe mạnh, ngòai ra còn tìm thấy chúng trong âm đạo phụ nữ, có khả năng dung nạp trong môi trường acid như ở dạ dày tốt nhất. Điều này dẫn đến giúp cạnh tranh, ức chế các vi khuẩn có hại khác như Staphylococcus aureus, E. coli, nấm Candida albicans, giảm lượng cholesterol, giúp dung nạp sử dụng lactose và có khả năng chống ung thư. Do vậy, chúng được sử dụng nhiều nhất làm probiotic và hỗ trợ điều trị tiêu chảy cũng như táo bón.

Lactobacillus casei cũng hiện diện nhiều trong phân người do vậy được sử dụng làm probiotic để cân bằng hệ vi khuẩn ruột, hỗ trợ điều trị tiêu chảy cũng như táo bón. Gần đây L. casei cho thấy có khả năng kích thích miễn dịch, và giúp chống các dị ứng bất thường. L. plantarum, tiết ra nhiều kháng sinh tự nhiên (bacteriocin), tổng hợp được acid amin L-Lysin, thải lọai nitrate tạo ra bởi vi khuẩn thối rửa. Vi sinh vật này cho thấy khả năng chống oxy hóa, ức chế Staphylococcus aureus trong các thức ăn lên men, trên người tình nguyện khỏe mạnh, khi sử dụng giúp giảm rõ rệt số lượng vi khuẩn có hại trong ruột. L. delbrueckii ssp. bulgaricus giúp tăng cường việc sử dụng lactose trên những người không dung nạp.

Thử nghiệm in vitro với chủng L. rhamnosus cho thấy chúng tạo ra những chất kháng khuẩn có trọng lượng phân tử nhỏ, có thể là những chuỗi acid béo mạch ngắn, chúng có khả năng ức chế các vi khuẩn kỵ khí như: Clostridium, Bacteroides, Bifidobacterium, chống lại Enterobacteriaceae, Pseudomonas, Staphylocuccus, Streptococus nhưng không chống lại các Lactobacilli khác. Thử nghiệm in vivo cho thấy khả năng chống lại vi khuẩn gây bệnh đường ruột của L. rhamnosus hoặc L. acidophilus  trên chuột được gây nhiễm Salmonella typhimurium. Ngoài ra L. acidophilus còn cho thấy khả năng chống lại vi khuẩn Helicobacter pylori trong những thử nghiệm trên in vitro và cả những thử nghiệm trên người.

Bifidobacterium spp.:
là một thành phần chính của vi sinh vật đường ruột bình thường. Chúng có mặt trong phân một vài ngày sau khi sinh và tăng số lượng sau đó. Bifidobacteria không di động, không bào tử, Gram dương, hình que với rất nhiều dạng, phần lớn vi sinh vật trong nhóm là kị khí bắt buộc. Bifidobacterium spp. cũng tìm thấy nhiều nhất trong ruột già của người lớn khỏe mạnh. 

Chúng được tìm thấy nhiều chức năng để trợ giúp tiêu hóa , ức chế họat động bất thường của ruột tiêu chảy cũng như táo bón, giảm lượng cholesterol trong máu, tăng cường hệ miễn dịch góp phần tác động chống ung thư. Trong số vi khuẩn Bididobacterium spp., Bifidobacterium longum tìm thấy cả ở người lớn và trẻ em khỏe mạnh, nhiều nhất ở ruột già, có khả năng sử dụng các hydratcarbon khác nhau, sinh sản tốt trong sữa, thích ứng tốt trong nhiều môi trường khác nhau và có khả năng ức chế các enzym gây ung thư. Bifidobacterium infantis, ngược lại chỉ tìm thấy trên trẻ em khỏe mạnh và có khả năng hấp thu cholesterol, ức chế Salmonella, Shigella, Rota virus và các virus khác do tăng cường hệ miễn dịch. Bifidobacterium breve, tìm thấy ở cả người lớn và trẻ em, có khả năng ức chế các enzym gây ung thư, ức chế cạnh tranh làm giảm số lượng vi khuẩn có hại như E. coli, Bacteroides, Clostridium… trong ruột, giúp hấp thu vitamin D và K. Bifidobacterium bifidum, ngòai ruột còn tìm thấy ở âm đạo phụ nữ, có khả năng chống bệnh tiêu chảy khi du lịch, và nổi bật là khả năng tăng cường hệ miễn dịch. Ngòai ra chúng còn chống lại sự tấn công xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh lên thành ruột. Thêm vào đó lượng acid lactic và acetic sản sinh sẽ điều chỉnh pH của ruột trở lại bình thường, tạo điều kiện không thuận lợi đối với vi khuẩn có hại. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chúng giúp hấp thu các khóang chất như sắt, calcium, magnesium và kẽm.

Bifidobacterium spp.:
là một thành phần chính của vi sinh vật đường ruột bình thường. Chúng có mặt trong phân một vài ngày sau khi sinh và tăng số lượng sau đó. Bifidobacteria không di động, không bào tử, Gram dương, hình que với rất nhiều dạng, phần lớn vi sinh vật trong nhóm là kị khí bắt buộc. Bifidobacterium spp. cũng tìm thấy nhiều nhất trong ruột già của người lớn khỏe mạnh. Chúng được tìm thấy nhiều chức năng để trợ giúp tiêu hóa , ức chế họat động bất thường của ruột tiêu chảy cũng 

như táo bón, giảm lượng choleste-rol trong máu, tăng cường hệ miễn dịch góp phần tác động chống ung thư. Trong số vi khuẩn Bididobacte-rium spp., Bifidobacterium longum tìm thấy cả ở người lớn và trẻ em khỏe mạnh, nhiều nhất ở ruột già, có khả năng sử dụng các hydratcarbon khác nhau, sinh sản tốt trong sữa, thích ứng tốt trong nhiều môi trường khác nhau và có khả năng ức chế các enzym gây ung thư. Bifidobacterium infantis, ngược lại chỉ tìm thấy trên trẻ em khỏe mạnh và có khả năng hấp thu cholesterol, ức chế Salmonella, Shigella, Rota virus và các virus khác do tăng cường hệ miễn dịch. Bifidobacterium breve, tìm thấy ở cả người lớn và trẻ em, có khả năng ức chế các enzym gây ung thư, ức chế cạnh tranh làm giảm số lượng vi khuẩn có hại như E. coli, Bacteroides, Clostridium… trong ruột, giúp hấp thu vitamin D và K. Bifidobacterium bifidum, ngòai ruột còn tìm thấy ở âm đạo phụ nữ, có khả năng chống bệnh tiêu chảy khi du lịch, và nổi bật là khả năng tăng cường hệ miễn dịch. Ngòai ra chúng còn chống lại sự tấn công xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh lên thành ruột. Thêm vào đó lượng acid lactic và acetic sản sinh sẽ điều chỉnh pH của ruột trở lại bình thường, tạo điều kiện không thuận lợi đối với vi khuẩn có hại. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chúng giúp hấp thu các khóang chất như sắt, calcium, magnesium và kẽm.

EnterococcusStreptococcus spp.
Những vi sinh vật này có khả năng phục hồi lại sự cân bằng của hệ vi khuẩn ruột vì sinh sản nhanh và tiết ra nhiều acid hữu cơ. Streptococcus faecium ức chế mạnh vi khuẩn gây bệnh, Rota virus. Những nghiên cứu gần đây cho thấy yaourt có thêm vi sinh vật này làm giảm rõ rệt lượng LDL cholesterol ở người sử dụng. Streptococcus thermophilus giúp tăng

cường việc sử dụng lactose trên những người không. Do vậy có thể nói sự phối hợp các  vi sinh vật trong sản phẩm probiotic là điều cần thiết. Mỗi nhóm vi sinh vật đều có ưu điểm riêng và đều ảnh hưởng đến môi trường vi sinh vật ở ruột. Để đạt được những yêu cầu theo khuyến cáo của FAO/WHO là vấn đề không đơn giản, chủng vi sinh vật probiotic phải được chọn lọc rất kỹ càng. Bên cạnh đó, việc bảo vệ các vi sinh vật probiotic từ quá trình sản xuất, trong thời gian lưu hành sản phẩm và khi sử dụng phải sống sót khi đến ruột tỉ lệ cao để phát huy tác dụng là vấn đề thật sự quan trọng nhưng còn bị xem nhẹ. Quá trình sản xuất, công nghệ bảo vệ bằng cách bao (coated) phải trải qua thời gian dài mới hoàn thiện dần. Thật vậy:

– Thế hệ đầu tiên, vẫn còn được sử dụng nhiều hiện nay vì giá thành rẻ, là dạng vi sinh vật probiotic sử dụng tự nhiên, không bao (Non- coated). Vi sinh vật không bao sống tốt trong môi trường nuôi cấy và trong thực phẩm lên men (như kim chi, sữa chua, phomat…) nhưng khó sống trong các dạng bào chế thuốc khi lưu hành với thời gian. Thêm vào đó, nhược điểm lớn nhất khi sử dụng là gần như không sống sót khi đi qua dạ dày và dịch mật.

Để hạn chế nhược điểm này, một số nhà sản xuất sử dụng vi sinh vật ở dạng bào tử. Các vi sinh vật lọai này nuôi cấy, sản xuất dễ dàng. Hơn nữa việc bảo quản trong các dạng bào chế thuốc khi lưu hành  có thuận lợi. Nhược điểm là khi đến ruột, vi sinh vật từ dạng bào tử muốn trở về dạng sinh dưỡng bình thường để phát huy tác dụng phải trải qua qua trình phá vỡ lớp vỏ bọc bào tử mất nhiều thời gian nên tác dụng chậm, hạn chế khả năng tương tranh nhanh chóng với vi sinh vật gây bệnh,… đáp ứng thấp các tiêu chí nêu trên. Cần lưu ý thêm các vi sinh vật này cũng không kháng cự tốt khi đi qua dạ dày và dịch mật.

Ngoài ra, một số nhà sản xuất còn sử dụng vi sinh vật probiotic chết đông khô (Lacteol) vì vi sinh vật tuy chết nhưng các sản phẩm chuyển hóa thì còn do vậy phần nào cũng có tác dụng chữa trị tuy nhiên không thể khai thác hết vai trò của vi sinh vật probiotic sống.

– Thế hệ 2 là dạng bao tan trong ruột (Enteric-coated) đưa vào dưới dạng viên nén hoặc viên nang với lớp bao bên ngoài tan trong ruột. Đây là ý tưởng bắt đầu của việc cần thiết bảo vệ vi sinh vật probiotic khi đi qua dạ dày và dịch mật nhưng không ứng dụng nhiều do vẫn còn nhiều nhược điểm như thời gian tan rã để phóng thích vi sinh vật probiotic. Thế hệ bào chế này chưa có sản phẩm tại Việt Nam, chỉ sử dụng nhiều ở Mỹ, Canada và một số nước khác.

– Thế hệ thứ 3 là dạng bao vi nang (Micro-Encapsulated)  hòan thiện ý tưởng của thế hệ thứ 2 nhưng chưa khắt phục được nhiều nhược điểm của thế hệ này, có hiện diện tại Việt Nam.

– Thế hệ thứ 4 là công nghệ tạo lớp bao kép (Dual-coated) DuolacTM vừa xuất hiện và là thế hệ mới nhất. Lớp bên trong là protein và bên ngoài là polysaccharide với ưu điểm vượt trội, đạt được những yêu cầu khắt khe khi sử dụng: vi sinh vật probiotic sống cao trong sản xuất và bảo quản, chống chịu được acid khi qua dạ dày cũng như muối mật. Lớp bao kép này rất ”thông minh”: bảo vệ tốt vi sinh vật probiotitc trong các điều kiện bất lợi trên nhưng đồng thời phóng thích nhanh chóng tại ruột để phát huy tác dụng trong thời gian nhanh nhất. Mới đây, tại Việt nam đã có sản phẩm sử dụng công nghệ DuolacTM này (Lacclean Gold cho người lớn và Kidlac cho trẻ em). Ngoài ra các vi sinh vật probiotic sử dụng trong sản phẩm đều tuân thủ yêu cầu nghiêm ngặt của FAO/WHO.

Kỹ thuật bào chế hiện đại: phương pháp bao màng kép không những tạo ra các dạng bào chế mới giải phóng hoạt chất tại đích (ruột) mà còn tạo ra các sản phẩm bào chế chứa vi khuẩn probiotic đạt được yêu cầu điều trị mong muốn. Sản phẩm giúp phòng ngừa và chữa trị hữu hiệu hơn những bệnh lý mà nguyên nhân chính là do rối loạn vi sinh vật đường ruột; đồng thời tăng cường miễn dịch giúp phòng ngừa bệnh tật, tăng cường sức khỏe và giảm nguy cơ ung thư ruột.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Alm L. Effect of fermentation on lactose, glucose and galactose content in milk and suitability of fermented milk products for lactose-deficient individuals. J. Dairy Sci. 65: 346-352. (1982)
  2. Alm L. The effect of Lactobacillus acidophilus administration upon the survival of Salmonella in randomly selected human carriers. Prog. Food Nutr. Sci. 7: 13-17. (1983)
  3. Bloksma N et al. Effects of Lactobacilli on parameters of non-specific resistance in mice. Medical Microbiology and Immunology 170: 45-53. (1981)
  4. Duc LH, Hong HA, Barbosa TM, Henriques AO, and Cutting SM. Characterization of Bacillus probiotics available for human use. Applied and environmental microbiology, 2161–2171. (2004)
  1. Gilliland SE. et al. Assimilation of cholesterol by L. acidophilus. Appl. Environ. Microbiol. 49: 377-81. (1985)
  2. Goldin BR and Gorbach, SL. The effect of milk and Lactobacillus feeding on human intestinal bacterial enzyme activity. Am. J. Clin. 39: 756-61. (1984)
  3. Gorbach GL. Function of the normal human microflora. J. Infec. Dis. Suppl. 49: 17-30. (1986)
  4. Gorbach SL. Lactic acid bacteria and human health. Annals of Medicine 22:37-41. (1990)
  5. Gorbach SL. Lactic acid bacteria and human health. Annals of medicine, 22:37-41. (1990)
  1. Gotz V et al. Prophylaxis against ampicillin-associated diarrhea with a Lactobacillus preparation. Am. J. Hosp. Pharm. 36: 754. (1979)

EnterococcusStreptococ-cus spp.
Những vi sinh vật này có khả năng phục hồi lại sự cân bằng của hệ vi khuẩn ruột vì sinh sản nhanh và tiết ra nhiều acid hữu cơ. Strep-tococcus faecium ức chế mạnh vi khuẩn gây bệnh, Rota virus. Những nghiên cứu gần đây cho thấy yaourt có thêm vi sinh vật này làm giảm rõ rệt lượng LDL cholesterol ở người sử dụng. Streptococcus thermophilus giúp tăng cường việc sử dụng lactose trên những người không dung nạp. Do vậy có thể nói sự phối hợp các  vi sinh vật trong sản phẩm probiotic là điều cần thiết.

Mỗi nhóm vi sinh vật đều có ưu điểm riêng và đều ảnh hưởng đến môi trường vi sinh vật ở ruột. Để đạt được những yêu cầu theo khuyến cáo của FAO/WHO là vấn đề không đơn giản, chủng vi sinh vật probiotic phải được chọn lọc rất kỹ càng. Bên cạnh đó, việc bảo vệ các vi sinh vật probiotic từ quá trình sản xuất, trong thời gian lưu hành sản phẩm và khi sử dụng phải sống sót khi đến ruột tỉ lệ cao để phát huy tác dụng là vấn đề thật sự quan trọng nhưng còn bị xem nhẹ. Quá trình sản xuất, công nghệ bảo vệ bằng cách bao (coated) phải trải qua thời gian dài mới hoàn thiện dần. Thật vậy:

– Thế hệ đầu tiên, vẫn còn được sử dụng nhiều hiện nay vì giá thành rẻ, là dạng vi sinh vật probiotic sử dụng tự nhiên, không bao (Non- coated). Vi sinh vật không bao sống tốt trong môi trường nuôi cấy và trong thực phẩm lên men (như kim chi, sữa chua, phomat…) nhưng khó sống trong các dạng bào chế thuốc khi lưu hành với thời gian. Thêm vào đó, nhược điểm lớn nhất khi sử dụng là gần như không sống sót khi đi qua dạ dày và dịch mật.

Để hạn chế nhược điểm này, một số nhà sản xuất sử dụng vi sinh vật ở dạng bào tử. Các vi sinh vật lọai này nuôi cấy, sản xuất dễ dàng. Hơn nữa việc bảo quản trong các dạng bào chế thuốc khi lưu hành  có thuận lợi. Nhược điểm là khi đến ruột, vi sinh vật từ dạng bào tử muốn trở về dạng sinh dưỡng bình thường để phát huy tác dụng phải trải qua qua trình phá vỡ lớp vỏ bọc bào tử mất nhiều thời gian nên tác dụng chậm, hạn chế khả năng tương tranh nhanh chóng với vi sinh vật gây bệnh,… đáp ứng thấp các tiêu chí nêu trên. Cần lưu ý thêm các vi sinh vật này cũng không kháng cự tốt khi đi qua dạ dày và dịch mật.

Ngoài ra, một số nhà sản xuất còn sử dụng vi sinh vật probiotic chết đông khô (Lacteol) vì vi sinh vật tuy chết nhưng các sản phẩm chuyển hóa thì còn do vậy phần nào cũng có tác dụng chữa trị tuy nhiên không thể khai thác hết vai trò của vi sinh vật probiotic sống.

– Thế hệ 2 là dạng bao tan trong ruột (Enteric-coated) đưa vào dưới dạng viên nén hoặc viên nang với lớp bao bên ngoài tan trong ruột. Đây là ý tưởng bắt đầu của việc cần thiết bảo vệ vi sinh vật probiotic khi đi qua dạ dày và dịch mật nhưng không ứng dụng nhiều do vẫn còn nhiều nhược điểm như thời gian tan rã để phóng thích vi sinh vật probiotic. Thế hệ bào chế này chưa có sản phẩm tại Việt Nam, chỉ sử dụng nhiều ở Mỹ, Canada và một số nước khác.

– Thế hệ thứ 3 là dạng bao vi nang (Micro-Encapsulated)  hòan thiện ý tưởng của thế hệ thứ 2 nhưng chưa khắt phục được nhiều nhược điểm của thế hệ này, có hiện diện tại Việt Nam.

– Thế hệ thứ 4 là công nghệ tạo lớp bao kép (Dual-coated) DuolacTM vừa xuất hiện và là thế hệ mới nhất. Lớp bên trong là protein và bên ngoài là polysaccharide với ưu điểm vượt trội, đạt được những yêu cầu khắt khe khi sử dụng: vi sinh vật probiotic sống cao trong sản xuất và bảo quản, chống chịu được acid khi qua dạ dày cũng như muối mật. Lớp bao kép này rất ”thông minh”: bảo vệ tốt vi sinh vật probiotitc trong các điều kiện bất lợi trên nhưng đồng thời phóng thích nhanh chóng tại ruột để phát huy tác dụng trong thời gian nhanh nhất. Mới đây, tại Việt nam đã có sản phẩm sử dụng công nghệ DuolacTM này (Lacclean Gold cho người lớn và Kidlac cho trẻ em). Ngoài ra các vi sinh vật probiotic sử dụng trong sản phẩm đều tuân thủ yêu cầu nghiêm ngặt của FAO/WHO.

Kỹ thuật bào chế hiện đại: phương pháp bao màng kép không những tạo ra các dạng bào chế mới giải phóng hoạt chất tại đích (ruột) mà còn tạo ra các sản phẩm bào chế chứa vi khuẩn probiotic đạt được yêu cầu điều trị mong muốn. Sản phẩm giúp phòng ngừa và chữa trị hữu hiệu hơn những bệnh lý mà nguyên nhân chính là do rối loạn vi sinh vật đường ruột; đồng thời tăng cường miễn dịch giúp phòng ngừa bệnh tật, tăng cường sức khỏe và giảm nguy cơ ung thư ruột.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Alm L. Effect of fermentation on lactose, glucose and galactose content in milk and suitability of fermented milk products for lactose-deficient individuals. J. Dairy Sci. 65: 346-352. (1982)
  2. Alm L. The effect of Lactobacillus acidophilus administration upon the survival of Salmonella in randomly selected human carriers. Prog. Food Nutr. Sci. 7: 13-17. (1983)
  3. Bloksma N et al. Effects of Lactobacilli on parameters of non-specific resistance in mice. Medical Microbiology and Immunology 170: 45-53. (1981)
  1. Duc LH, Hong HA, Barbosa TM, Henriques AO, and Cutting SM. Characterization of Bacillus probiotics available for human use. Applied and environmental microbiology, 2161–2171. (2004)
  1. Gilliland SE. et al. Assimilation of cholesterol by L. acidophilus. Appl. Environ. Microbiol. 49: 377-81. (1985)
  2. Goldin BR and Gorbach, SL. The effect of milk and Lactobacillus feeding on human intestinal bacterial enzyme activity. Am. J. Clin. 39: 756-61. (1984)
  3. Gorbach GL. Function of the normal human microflora. J. Infec. Dis. Suppl. 49: 17-30. (1986)
  4. Gorbach SL. Lactic acid bacteria and human health. Annals of Medicine 22:37-41. (1990)
  1. Gorbach SL. Lactic acid bacteria and human health. Annals of medicine, 22:37-41. (1990)
  1. Gotz V et al. Prophylaxis against ampicillin-associated diarrhea with a Lactobacillus preparation. Am. J. Hosp. Pharm. 36: 754. (1979)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *